The United States and the House of Ngo Hoa Kỳ và Nhà Ngô

Kính thư quý độc giả.

Chúng tôi xin đăng hồ sơ của CIA đã được công bố sau hơn 50 năm, hồ sơ được dịch từ ông Nguyễn Khiết, vì tập hồ sơ dài nên ông Khiết sẽ phổ biến nhiều đợt. Xin cám ơn bạn Nguyễn Khiết đã cho đăng lại tập hồ sơ này.

The United States and the House of Ngo
Hoa Kỳ và Nhà Ngô

Lời mở đầu.
Các bạn thân mến,
Chúng tôi vừa nhận được một tập hồ sơ về những gì mà Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ CIA đã làm tại Việt Nam từ thập niên 1940 đến giữa thập niên 1960. Sở dĩ tập hồ sơ này được thiết lập là do một sự việc như sau.

Vào tháng Sáu 2000, CIA phổ biến một tập tài liệu tiết lộ những gì mà họ đã làm tại Việt Nam từ 1954 đến 1963. Sau đó, có một số cựu viên chức cao cấp của Hoa Kỳ cho rằng tập tài liệu này có sự thiếu chính xác và thiếu sót chi tiết rõ ràng nên họ bổ túc. Chính vì sự bổ túc và cải chính này mà có thêm nhiều báo cáo nội bộ và nhiều đoạn nhật ký, sổ tay được trưng ra.
Tập hồ sơ này có đến hơn 3 ngàn trang trong đó có khoảng 80 báo cáo cá nhân và khoảng 1 ngàn trang nhật ký. Nhiều chỗ, danh tánh cá nhân đã được bôi đen để tránh phiền phức hoặc để bảo mật.
Phần đầu của tập hồ sơ này rất dài mà lại không liên quan đến cuộc đảo chánh năm 1963. Do đó, chúng tôi chỉ lược dịch tóm tắt để các bạn trẻ có thể hiểu được bối cảnh đất nước lúc bấy giờ. Những phần liên quan đến vụ đảo chánh, chúng tôi đã đối chiếu nhiều bản báo cáo khác nhau để có được sự chính xác nhất và đầy đủ chi tiết nhất.
Bây giờ, mời các bạn theo dõi.

Bài 1: Tại sao có trận Điện Biên Phủ?
Năm 1944, ba vị nguyên thủ quốc gia của ba siêu cường lúc bấy giờ tham dự hội nghị thượng đỉnh tại Teheran, thủ đô của Ba Tư. Đó là Thủ Tướng Winston Spencer Churchill của Liên Hiệp Anh, Tổng Thống Franklin Roosevelt của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, và Chủ Tịch Josef Stalin của Liên Xô. Hội nghị kết thúc sớm hơn nghị trình do cả ba đều có chủ trương khác nhau nên có sự bất đồng ý kiến giữa cả ba. Stalin chủ trương cho thuyết cộng sản lan tràn khắp Á Châu. Thủ Tướng Churchill chủ trương duy trì chính sách thuộc địa. Tổng Thống Roosevelt thì chống cả chủ thuyết cộng sản lẫn chủ nghĩa thuộc địa. Tuy nhiên, cả Nga lẫn Anh lúc đó đều cần Hoa Kỳ giúp đánh Đức Quốc Xã và Nhật Bản nên cả Churchill lẫn Stalin đều hứa với Roosevelt rằng dầu sao thì cuối cùng Đông Dương cũng được trả độc lập mà thôi. Khi hứa như thế, Churchill mưu tính những gì trong đầu, không ai dám quả quyết. Nhưng hầu như ai cũng có thể đoán được những mưu tính trong đầu Stalin: nếu Đông Dương được trao trả độc lập, chắc chắn Đảng Cộng Sản Đông Dương sẽ thống trị bán đảo này.
Không bao lâu sau đó, Roosevelt đột ngột qua đời và Harry Truman lên làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Lại cũng chỉ một thời gian ngắn sau đó, Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, và Pháp muốn củng cố lại vị thế của mình tại Đông Dương. Tổng Thống Truman không ghét cay ghét đắng Tổng Thống Charles de Gaule của Pháp như Tổng Thống Roosevelt trước đó. Ông lại cũng không muốn cộng sản cai trị Đông Dương. Vì thế nên Truman sẵn sàng ủng hộ Pháp trong cuộc chiến tranh chống cộng nhưng chưa biểu lộ công khai. Truman biết rằng Chiến Tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga đã thực sự bắt đầu kể từ khi Hoa Kỳ chế tạo thành công bom nguyên tử. Ông không muốn làm cho tình hình thêm căng thẳng.
Vì Truman chưa công khai hoá lập trường của mình nên Hồ Chí Minh vẫn còn hy vọng sống bám vào Mỹ. Chỉ trong vòng năm tháng từ tháng Chín 1945 đến tháng Hai 1945, Hồ Chí Minh đã gửi cho Tổng Thống Truman ít nhất 8 điện văn chính thức xin giúp đỡ. Phía Hoa Kỳ không chính thức phúc đáp các điện văn này. Vì không có sự phúc đáp một cách chính thức như thế nên người ta chỉ có thể dựa vào một sự việc xảy ra lúc đó để mà kết luận.
Vào thời bấy giờ, CIA chưa ra đời mà giữ vai trò điệp báo là Văn Phòng Chiến Lược Vụ (Office of Strategic Services) thường được gọi tắt là OSS. Cơ quan này đã giúp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp rất nhiều trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Điều này thì đã quá rõ ràng nên chúng ta không cần nói thêm ở đây. Ngày 26 tháng Chín 1945, người cầm đầu OSS tại Việt Nam là Trung Tá Peter Dewey bị quân Việt Minh phục kích bắn chết khi đang ngồi trên một chiếc xe Jeep ra phi trường Tân Sơn Nhứt. Dewey là quân nhân Hoa Kỳ đầu tiên hy sinh vì công vụ tại Việt Nam.
Quân Việt Minh xin lỗi, nói rằng bắn lầm, nhưng làm như thế đâu có đủ để Mỹ bỏ qua, nhất là trước đó các điệp viên của OSS đã giúp gầy dựng lực lượng võ trang mà sau này là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Vì thế nên người ta mới kết luận rằng vì vụ Việt Minh bắn chết Trung Tá Dewey mà chính phủ Hoa Kỳ không đáp lại lời thỉnh cầu của Hồ Chí Minh.
Năm 1949, Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch, nhuộm đỏ toàn Hoa Lục. Năm sau, quân Bắc Hàn vượt qua ranh giới, xâm lăng Nam Hàn và Chiến Tranh Triều Tiên bùng nổ. Hai sự kiện này cho Hoa Kỳ thấy hiểm hoạ cộng sản tại Á Châu đã quá rõ ràng. Vì thế nên Hoa Kỳ quyết định can thiệp bằng cách giúp Việt Nam Quốc Gia. Không rõ vì tình cờ hay vì có sự xắp xếp, vào đầu tháng Hai 1950, Quốc Hội Pháp ký kết một thoả ước mà theo đó, Việt Nam là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu. Người Pháp làm như thế để Hoa Kỳ có thể viện trợ trực tiếp cho Việt Nam Quốc Gia, và không can dự gì đến Pháp.
Ngày 7 tháng Hai 1950, tức là ngay sau khi Pháp thừa nhận Việt Nam Quốc Gia, Hoa Kỳ và Anh Quốc cũng thừa nhận tân quốc gia này.
Ngày 8 tháng Năm 1950, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson cho biết giữa Pháp và Hoa Kỳ đã đạt đến một thoả ước mà theo đó, Hoa Kỳ sẽ trợ giúp vũ khí cho lực lượng viễn chinh của Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Điều này nhằm mục đích chính yếu là giúp quân đội của ba quốc gia Việt Nam, Cao Miên và Lào có thể cùng chung với Pháp đánh quân Việt Minh. Sau đó, khi Pháp trao lại độc lập, ba quốc gia này có đủ thực lực để bảo vệ lãnh thổ.
Việc Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam Quốc Gia một cách đáng kể, trực tiếp và công khai chính thức bắt đầu vào ngày 3 tháng Tám 1950. Hôm đó, một phái bộ quân sự gồm có 35 người đến Sài Gòn. Đó là Toán Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ (United States Military Assistance Advisory Group) được gọi tắt là MAAG. Theo sau họ là quân xa và phi cơ cùng với nhiều loại vũ khí được chở đến Việt Nam. Các cố vấn của MAAG có nhiệm vụ hướng dẫn Quân Đội Quốc Gia Việt Nam cách sử dụng những loại vũ khí mới mẻ này. Cùng lúc đó, viện trợ dân sự cho ba quốc gia Đông Dương cũng được xúc tiến. Đến cuối năm đó, tổng số viện trợ của Hoa Kỳ cho Pháp tại Đông Dương, và cho ba quốc gia Việt Nam, Cao Miên, và Ai Lao đã lên đến nửa tỷ Mỹ-kim.
Ở đây, chúng ta cũng nên nhớ lại rằng Trung Cộng chính thức viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà của Hồ Chí Minh vào tháng Giêng năm này. Viện trợ quân sự bao gồm cả những loại vũ khí tối tân nhất.
Ngày 7 tháng Chín 1951, Hoa Kỳ và Việt Nam gia hạn thoả ước tương trợ với một ít tu chính. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự và nhân đạo cho Việt Nam. Vì thế nên mới có sự bàn tán giữa các chính khách Hoa Kỳ. Theo họ, Tướng Jean de Lattre de Tassigny của Pháp biết rất rõ ràng rằng Hoa Kỳ muốn biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cộng nên đã cố tình tạo ra một bối cảnh Việt Minh có mặt khắp nơi tại miền Nam Việt Nam để Hoa Kỳ gia tăng viện trợ. Hoa Kỳ tăng viện trợ cho Việt Nam Quốc Gia có nghĩa là Pháp được người bản xứ tiếp tay mạnh hơn trong việc đánh lại quân Việt Minh.
De Tassigny tỏ vẻ bất bình và sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Pháp ngày càng trầm trọng.
Tháng Bảy 1952, Tổng Thống Truman ký sắc lệnh nâng cấp ngoại giao đoàn Hoa Kỳ tại Sài Gòn lên cấp Toà Đại Sứ. Như thế, Hoa Kỳ đã cho Pháp thấy rằng họ đã bang giao chính thức với Việt Nam và bắt đầu tranh giành ảnh hưởng với Pháp tại Bán Đảo Đông Dương.
Ngày 4 tháng Mười Một 1952, Đại Tướng Dwight David Eisenhower, một người hùng của Đệ Nhị Thế Chiến, đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Eisenhower có cái nhìn khác hẳn về tình hình Đông Dương so với vị tiền nhiệm của ông. Truman xem cuộc chiến ở đây như một sự tranh giành giữa người bản xứ và thực dân. Eisenhower thì trái lại, xem đó như là một cuộc chiến giữa phe cộng sản và thế giới tự do, điển hình là Trung Cộng ngày càng đổ nhiều chiến cụ vào miền Bắc cho Việt Minh. Hai nhân vật thân cận nhất của Tổng Thống Eisenhower là Phó Tổng Thống Richard Nixon và Ngoại Trưởng John Foster Dulles cũng có một cái nhìn tương tự và hai ông này thậm chí còn cho rằng phát động một chiến dịch ngăn chặn làn sóng đỏ tại Đông Nam Á là một điều cần thực hiện ngay.
Ngày 20 tháng Năm 1953, Đại Tướng Henri Navarre trở lại Đông Dương một lần nữa để giữ chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại đây. Navarre nói một câu để đời, rằng việc chiến thắng quân Việt Minh giống như ánh sáng đã loé ra ở cuối đường hầm. Ba tháng sau, tình hình còn tệ hại cho Pháp hơn nữa nên đến tháng Chín thì Hoa Kỳ gia tăng viện trợ cho Việt Nam Quốc Gia. Lúc đó, ngoài miền Bắc thì Trung Cộng đem thêm quân xa, trọng pháo và cao xạ phòng không sang cho Việt Minh. Trong Nam, Hoa Kỳ chi viện cho Việt Nam Quốc Gia 1 tỷ 133 triệu Mỹ-kim, tức là một phần ba tổng số ngoại viện của Hoa Kỳ.
Đến ngày 20 tháng Mười Một năm đó, quân Pháp đánh bật Việt Minh ra khỏi Điện Biên Phủ. Tháng Ba năm 1954, quân Việt Minh lại đem quân đến bao vây Điện Biên Phủ, lần này thì đông quân hơn và được trang bị mạnh hơn rất nhiều.
Tại sao Việt Minh quay lại Điện Biên Phủ để đánh Pháp một lần nữa?
Một cuộc chiến, hay một trận đánh, đều có nguyên nhân và mục đích. Trận Điện Biên Phủ tuy rằng đạt được mục đích rõ ràng chứ không như trận Trân Châu Cảng nhưng nói về nguyên nhân thì hai trận này giống nhau.
Năm 1931, giới quân phiệt Nhật Bản gây hấn ở Viễn Đông và sau đó xâm chiếm Mãn Châu. Gần đến cuối thập niên 1930 thì quân đội Nhật đã xuất hiện ở những vùng mà Hoa Kỳ có quyền lợi. Vì thế nên sau cùng thì Hoa Kỳ ra tối hậu thư rằng nếu quân đội Nhật không rút ra khỏi những nơi này, Hoa Kỳ sẽ cắt hết nguồn cung cấp dầu hoả cho Nhật Bản.
Không có dầu hoả, Nhật Bản không thể nào điều hành guồng máy chiến tranh. Nhưng điều đình với Hoa Kỳ thì giới quân phiệt Nhật Bản lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ đưa ra những điều kiện khắc nghiệt. Giữa bối cảnh đó, Đô Đốc Isoroku Yamamoto, một người rất yêu chuộng hoà bình và rất có cảm tình với Hoa Kỳ, cố gắng thuyết phục giới quân phiệt Nhật Bản điều đình với Hoa Kỳ. Yamamoto cam kết rằng ông sẽ có cách chứng minh cho Hoa Kỳ thấy rằng Nhật Bản có sức mạnh quân sự hơn là cần thiết để đối đầu với Hoa Kỳ. Một khi chứng minh được như thế, Yamamoto tin rằng Hoa Kỳ sẽ chịu thương thuyết với Nhật Bản mà không đưa ra những đòi hỏi quá đáng. Quả nhiên, giới quân phiệt Nhật Bản đồng ý thương thuyết với Hoa Kỳ nếu như Yamamoto có cách nào đó để dằn mặt Hoa Kỳ trước, để Hoa Kỳ không dám coi thường Nhật Bản.
Vì muốn chứng minh sức mạnh quân sự của Nhật Bản, Yamamoto đã cho đánh Trân Châu Cảng mà chính ông là người chỉ huy. Ông muốn chứng minh sức mạnh của Nhật Bản để Hoa Kỳ chịu đàm phán với giới quân phiệt Nhật Bản mà không đưa ra những đòi hỏi quá đáng. Mục đích của Yamamoto thì như thế nhưng hậu quả thì ngược lại. Vì trận Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản và cuối cùng thì Nhật Bản tan hoang, giới quân phiệt phá sản hoàn toàn.
Với trận Điện Biên Phủ 1954, Trung Cộng cũng có một mục đích tương tự như Yamamoto mà Việt Minh không hề hay biết. Vào đầu năm đó, đại diện của Tứ Cường là Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Nga đã họp tại Bá Linh để bàn về Đông Dương. Sau đó, Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai gặp gỡ Ngoại Trưởng Dulles của Hoa Kỳ mấy lần và sau cùng thì hai đại cường đi đến một thoả ước về Việt Nam. Theo đó, Hoa Kỳ đã chứng tỏ được ý định của họ khi viện trợ ồ ạt cho Việt Nam Quốc Gia thì Trung Cộng cũng có quyền cho Pháp thấy ý đồ của họ tại miền Bắc khi họ viện trợ không ngừng cho Việt Minh. Để chứng tỏ ý đồ của mình, Trung Cộng ra lệnh cho Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ với sự hỗ trợ công khai của Bắc Kinh.
Sau chiến thắng tại Điện Biên Phủ, quân Việt Minh lên tinh thần, muốn đánh thêm mấy trận lớn nữa, nhưng Trung Cộng không cho phép.
Với Chiến Tranh Triều Tiên, Trung Cộng đã thấy sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ kinh khiếp như thế nào. Nếu Trung Cộng để Việt Minh đánh tiếp, chắc chắn Mỹ sẽ can thiệp quân sự và đó là một điều Trung Cộng rất sợ. Chu Ân Lai biết rất rõ Eisenhower. Chu Ân Lai biết rằng mặc dù đã có thoả ước với Trung Cộng, Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì tại Đông Dương để cản bước tiến của cộng sản và vì thế nên Eisenhower không muốn thấy Việt Minh có thêm một chiến thắng nào khác.
Chu Ân Lai chỉ thị cho Việt Minh ngưng chiến và điều đình với Pháp. Vì thế nên mới có Hội Nghị Quân Sự Trung Giã.
Với trận Điện Biên Phủ, Việt Minh được ngồi xuống đàm phán với Pháp trên vị thế bình đẳng. Trung Cộng thì đạt được mục đích riêng của họ như đã nói ở trên, và kế đến là Hiệp Định Genève.

Trong bài tới, chúng ta sẽ xem lại những nguyên do và yếu tố đưa Ông Ngô Đình Diệm trở thành nhà lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hoà.

Hình thứ nhất là Trung Tá Peter Dewey.
Hình thứ hai là nông dân Việt Nam chào đón phái bộ viện trợ Hoa Kỳ lần đầu tiên, 1950.

Image may contain: 1 person, smiling
Image may contain: one or more people, sky and outdoor

This entry was posted in Tài liệu, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s